Theo đó, việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước được quy định như sau:
- Việc lập dự toán, chấp hành và quyết toán kinh phí chi thường xuyên từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; Nghị định 358/2025/NĐ-CP ; Quyết định 417/QĐ-BNNMT và Quyết định 16/2026/QĐ-TTg ; văn bản hướng dẫn của các cơ quan chủ Chương trình; văn bản hướng dẫn của các bộ, cơ quan được phân công chủ trì Nội dung, Nội dung thành phần; quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật liên quan.
Các cơ quan, đơn vị được phân bổ và giao dự toán kinh phí thực hiện Chương trình chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng và quyết toán theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên ngân sách nhà nước hiệu quả gắn với kết quả đầu ra, tránh thất thoát, lãng phí. Các nội dung, nhiệm vụ, hoạt động thuộc Chương trình đã được quyết toán từ nguồn kinh phí của các chương trình, đề án, dự án khác thì không được quyết toán từ nguồn kinh phí của Chương trình.
- Đối với các hoạt động, nhiệm vụ cơ quan, đơn vị được giao dự toán (Bên A) ký hợp đồng với các cơ quan, đơn vị khác thực hiện (Bên B) theo quy định của pháp luật, tài liệu làm căn cứ thanh toán, quyết toán được lưu tại Bên A gồm: Hợp đồng, biên bản nghiệm thu công việc, biên bản thanh lý hợp đồng, văn bản đề nghị thanh toán kinh phí của Bên B, ủy nhiệm chi hoặc phiếu chi và các tài liệu có liên quan khác. Các hóa đơn, chứng từ chi tiêu cụ thể do Bên B trực tiếp thực hiện lưu giữ theo quy định hiện hành. Bên B có trách nhiệm triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình đã ký kết, trực tiếp sử dụng kinh phí theo đúng quy định của pháp luật. Đối với Bên B là các Hợp tác xã, Tổ hợp tác, cộng đồng, hộ gia đình, doanh nghiệp chủ trì liên kết không phải cơ quan Nhà nước, hồ sơ sao lưu gửi cho Bên A giữ 1 bản để tránh trường hợp thất lạc chứng từ trong quá trình lưu giữ hồ sơ. Cơ quan được giao dự toán (Bên A) có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hồ sơ, chứng từ và việc sử dụng kinh phí của đơn vị thực hiện nhiệm vụ (Bên B).
- Đối với các Nội dung thành phần có hỗ trợ hộ gia đình, việc hỗ trợ đối với hộ gia đình thực hiện thông qua người đại diện của gia đình là chủ hộ hoặc người đại diện cho hộ gia đình (là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, được ủy quyền bằng văn bản thay mặt gia đình nhận hỗ trợ). Cơ quan được giao nhiệm vụ hỗ trợ thực hiện lập bảng kê hỗ trợ hộ gia đình, trong đó ghi rõ họ và tên, số định danh cá nhân/số căn cước công dân, địa chỉ người đại diện hộ gia đình được hỗ trợ; số tiền hỗ trợ hoặc tên, số lượng, thông số kỹ thuật, ký hiệu, nhãn mác, đơn vị sản xuất của loại sản phẩm hiện vật được hỗ trợ; chữ ký (dấu tay điểm chỉ) của người đại diện hộ gia đình được hỗ trợ hoặc xác nhận của tổ chức dịch vụ chi trả (trong trường hợp thanh toán qua tổ chức dịch vụ chi trả) làm chứng từ quyết toán.
- Việc thanh toán các khoản chi thường xuyên thực hiện Chương trình qua Kho bạc Nhà nước thực hiện theo quy định tại Nghị định 347/2025/NĐ-CP quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước.
Xem thêm nội dung tại Thông tư 60/2026/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31/5/2026.